Thứ Hai, 27 tháng 9, 2010

HỆ TIM MẠCH

HỆ TIM MẠCH - HỆ TUẦN HOÀN

Hệ tuần hoàn gồm có tim và mạng lưới các mạch máu. Hầu như hoàn toàn ]ợc cấu tạo bằng cơ, tim chịu trách nhiệm bơm máu đi khắp cơ thể. Máu không những vận chuyển các chất dinh dưỡng và các chất dinh dưỡng và các chất khí từ bộ phận cơ thể này đến bộ phận cơ thể khác mà nó còn có nhiệm vụ như một phương tiện liên lạc bằng cách truyền đạt các thông tin hoá học trong các hoócmon từ các tuyến nội tiết đến các cơ quan và mô.


MẶT CẮT NGANG QUẢ TIM



HỆ THUẦN HOÀNG


Hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn gồm có tim và mạng lưới các mạch máu. Hầu như hoàn toàn ]ợc cấu tạo bằng cơ, tim chịu trách nhiệm bơm máu đi khắp cơ thể. Máu không những vận chuyển các chất dinh dưỡng và các chất dinh dưỡng và các chất khí từ bộ phận cơ thể này đến bộ phận cơ thể khác mà nó còn có nhiệm vụ như một phương tiện liên lạc bằng cách truyền đạt các thông tin hoá học trong các hoócmon từ các tuyến nội tiết đến các cơ quan và mô.

MÁU

Máu cần thiết cho hoạt động của cơ thể. Nó được tim bơm đi khắp mạng lưới các động mạch và tĩnh mạch ở trong, từ trước khi sinh cho đến khi chết, phân phối oxy, chất dinh dưỡng và các chất dinh dưỡng khác nếu không có thể làm tổn hại đến hệ thống. Máu còn giúp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh và nhờ khả năng đông lại, máu có nhiệm vụ như một bộ phận quan trọng trong cơ cấu bảo vệ tự nhiên của cơ thể.

Máu không phải là một chất lỏng đơn giản. Dịch tuần hoàn gọi là máu, chứa chất dinh dưỡng và oxy hòa tan tới nuôi các tế bào sau đó đem các cặn bã và CO2 ra kỏi tế bào. Ngoài ra còn có tác dụng điều hòa nội môi và là môi trường để dẫn truyền hoocmon. Máu gồm: huyết tương, tiểu cầu, hồng cầu, bạch cầu. Máu chia làm 4 nhóm: A kháng B, B kháng A, AB không kháng, O kháng A và B. Người có nhóm máu A có thể tiếp máu nhóm O, nhóm B có thể tiếp nhóm O, nhóm AB có thể tiếp nhóm A,B,AB,O. Ngoài ra còn nhóm máu hiếm Rh – Rhe’sus. Nhóm R chiếm tỉ lệ rất ít khoảng 0,16%, ở châu á chiếm tỷ lệ 1/10.000 người, châu Au là 15%.. Trong nhóm máu R lại chia làm hai: R- âm chiếm tỷ lệ 0,4% của R và R+ dương chiếm tỷ lệ 99,6%.Độ sệt của nó ai cũng biết là do có mặt hàng triệu tế bào mà các hoạt động của nó làm cho nó cũng chẳng khác gì một mô cơ thể như xương hoạc cơ. Máu gồm có một chất lỏng không màu được gọi là huyết tương, trong đó các hồng cầu, bạch cầu lơ lửng và các tế bào rất nhỏ được gọi là tiểu cầu.Được trung tâm hô hấp của não là hành tủy kiểm soát và được điều hòa theo mức cacbonic trong máu.
Giống như phần lớn cơ thể, huyết tương gồm có chủ yếu là nước. Bởi vì nó là một chất lỏng nên nó có thể khuếch tán qua các thành của những mạch máu nhỏ, chẳng hạn như các mao mạch. Vì thế nó liên lạc trực tiếp với các dịch ngoại bào, chất dịch mà thực sự bao quanh bề mặt tất cả các tế bào của cơ thể. Điều này có nghĩa là các chất khoáng và các chất khác có thể dược đưa từ tế bào này sang tế bào khác khắp cơ thể theo đường huyết tương.

HUYẾT TƯƠNG

Huyết tương là một phương tiện vận chuyển các nguyên liệu quan trọng của cơ thể, thí dụ như glucose và các chất béo cơ bản. Huyết tương làm nhiệm vụ điều hòa dịch mô, điều hòa PH, làm dung môi và điều nhiệt. thành phần có nước 90%, các chất hòa tan, (1-2% huyết tương) ion Na K, Ca, Mg, cation CL, HCO 3 H 2 PO 4, gluco, ure, axitamin, vitamin, các protein huyết tương ( 6-8 % huyết tương) mỗi lít huyết tương chứa 75 g protein, fibrinogen, các albumin, các globulin,. Albumin được chế tạo trong gan, là một nguồn thực phẩm chính cho các mô. Globulin có nhiệm vụ như các kháng thể chống nhiễm trùng, bảo vệ, vận chuyển hoocmon.Các chất béo khác được vận chuyển trong huyết tương đương gồm có: chất sắt, chất cần thiết để tạo thành haemoglobin sắc tố vận chuyển oxy và nhiều hoócmon chẳng hạn như hoócmon tuyến giáp. Vì vậy, huyết tương gồm có một dung dịch nước khoáng, chất dinh dưỡng và số lượng nhỏ các hợp chất quan trọng như các hoócmon cùng với một thành phần thiết yếu khác protein chất có nhiều nhất trong huyết tương.
Cũng giống như một nguốn thực phẩm cho các mô,albumin cung cấp áp suất thẩm thấu giữ cho phần chất lỏng của máu bên trong các mạch máu và ngăn máu tràn ra vào trong các mô và sau đó vào các tế bào. Albumin có thể được tưởng tượng như một loại xốp hút nước lưu thông, giữ lượng nước cần thiết trong dòng máu và ngăn cơ thể thoái hoá thành một khối như thạch nhão nhoẹt.
Có lẽ quan trọng nhất trong các globulin là những globulin có nhiệm vụ như các kháng thể chống nhiễm trùng. Ngoài ra, một số protein globulin hoạt động dưới dạng hình thức các cục máu, cùng với các tế bào.

TIẺU CẦU

Tiểu cầu là những tế bào nhỏ nhất trong cơ thể. Một mililit máu chứa khoảng 250 triệu tiểu cầu và một tiểu cầu rộng khoảng 3 micromet.
Tiểu cầu có một chức năng cơ bản: làm cho máu đông lại khi bị chảy máu. Gần đây, các bác sĩ rất chú trọng đến cách thức hoạt động của tiểu cầu bởi vì ngày càng nhận thấy chúng quan trọng trong hiện tượng cơ cứng động mạch – làm cứng các động mạch - một chứng bệnh thường thấy ở thế giới phương Tây.
Bởi vì có quá nhiều tiểu cầu trong máu, nên lúc nào cũng sẽ có nhiều tiểu cầu ở gần bất kỳ vị trí chảy máu nào có thể xảy ra.
Còn thành mạch máu thường được lót bằng lớp lót mềm của các tế bào được gọi là các tế bào biểu mô. Một khi lớp lót này bị vỡ - tức là sự chảy máu chảy ra – các phần tử của máu tiếp xúc với các phần khác của thành mạch máu. Sau giai đoạn này, các phần tử khác của máu tác động lẫn nhau để tạo thành tơ huyết, đem lại sự hồi phục vết thương vĩnh cửu hơn.
Khả năng máu đông lại và như vậy ngăn chặn sự chảy máu đến chết nếu một mạch máu bị cắt đứt, xuất phát từ hoạt động liên kết của các tiểu cầu và nhiều chất hoá sinh, được gọi là các yếu tố đông máu. Trong số này chất quan trọng có tên là pro-thrombin. Các nhân tố này được thấy trong phần chất lỏng của máu - huyết tương. Các nhược điểm của quá trình đông lại thuộc hai loại - thiếu các cục để hình thành trong mạch máu.

HỒNG CẦU

Hồng cầu có nguồn gốc từ tủy xương, có nhiệm vụ vận chuyển oxy và cacbonic, chiếm 4.000.000 đến 6.000.000 đơn vị trong 1ml máu đường kính 8,5 micromet, bề dày 2 micromet, chức năng vận chuyển O2 , CO2 , đệm PH, thời gian sống là 90 đến 120 ngày. Các hồng cầu có vai trò như những người chuyên chở, đưa oxy từ phối đến các mô. Sau khi thực hiện việc này, chúng không trở về trống không mà nhận carbondioxide, một chất thải của hoạt động tế bào và đưa nó trở về phổi, từ đây chất thải được đưa ra ngoài. Chúng có khả năng thực hiện được điều này bởi vì chúng có chứa hàng triệu phần tử của chất có tên là haemoglobin. Ở trong phổi, oxy kết hợp rất nhanh với haemoglobin để làm cho các hồng cầu có màu đỏ tươi từ đó phát sinh ra tên của chúng. Hồng cầu hay hồng huyết cầu. Được đưa vào các động mạch, máu “đã oxy hoá” này đi đến các mô. Với sự giúp đỡ của các enzyme trong hồng cầu.
Sự sản xuất các hông cầu bắt đầu trong vài tuần đầu tiên sau khi thụ thai và trong ba tháng đầu tiên, sự sản xuất xảy ra trong gan. Chi sau sáu tháng phát triển bào thai thì sự săn xuất được chuyển qua tuỷ xương, nơi nó tiếp tục trong khoảng thời gian còn lại của cuộc đời. Cho đến tuổi thanh niên tuỷ trong tất cả các xương tạo ra hồng cầu, nhưng sau khoảng tuổi 20, sự săn xuất hồng cầu bị giới hạn vào tuỷ xương trong cột sống, xương sườn và sương ức.
Các hồng cầu bắt đầu cuộc sống của chúng như các tế bào hơi tròn, không đều có tên là huyết nguyên bào, có nhân to lớn. Các tế bào này sau đó trải qua một loạt sự phân chia nhanh chóng, suốt thời gian đó nhân ngày càng nhỏ hơn và sau đó mất hẳn. Để sản xuất ra hồng cầu, cơ thể cần sắt - thành phần quan trọng của chất: haemoglobin, vitamin B12, Folic acid và các protein.
Trong những chuyến đi vòng quanh dòng máu của chúng, các hồng cầu phải chịu đựng sự hư hỏng to lớn và vì vậy cần sự phục hồi liên tục. Mỗi hồng cầu có tuổi thọ trung bình là 120 ngày. Sau thời gian này, các tế bào được tạo ra trong tuỷ xương và lá lách tấn công các hồng cầu đó, các hồng cầu già cỗi. Một số hoá chất còn lại lập tức được trả lại cho huyết tương để tái sử dụng, trong khi số khác, kể cả haemoglobin được đưa đến gan để phá huỷ thêm nữa.
Cơ thể có một khả năng đặc biệt về kiểm soát số lượng hồng cầu đang tuần hoàn, theo các nhu cầu của nó. Nếu bị mấy nhiều máu, nếu nhiều phần tuỷ xương bị hư hỏng hoặc nếu lượng oxy đến các mô bị giảm xuống do suy tim hoặc bởi vì một người đang ở độ cao quá mức thì tuỷ xương lập tức bắt đầu gia tăng sự sản xuất hồng cầu. Và ngay cả sự tập luyện thể thao căng thẳng hàng ngày cũng kích thích thêm năng suất hồng cầu , bởi vì cơ thể có nhu cầu cân đối thêm oxy. Sự đếm các tế bào máu cho thấy rằng các vận động viên điền kinh có số hồng cầu nhiều gấp đôi hồng cầu của những người có cuộc sống ít vận động.

BẠCH CẦU

Các bạch cầu ở trong máu, bạch cầu lớn hơn và rất khác với hồng cầu. KHông giống như các hồng cầu, các bạch cầu chẳng giống nhau tí nào cả và có khả năng di chuyển với một chuyển động dần dần. Có liên quan đến sự bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật, các bạch cầu được xếp loại thành ba nhóm chính về mặt kỹ thuật gọi là: bạch cầu đa hình, lymphô bào và bạch cầu đơn nhân.
bạch cầu đa hình (còn gọi là bạch cầu nhân đa hình) cấu tạo nên từ 50->75% bạch cầu, được chia nhỏ thành ba loại. Nhiều nhất là các bạch cầu có tên là bạch cầu trung tính.
Khi cơ thể bị vi trùng gây bệnh xâm nhập, các bạch cầu này đi làm nhiệm vụ. Do vi trùng phóng thích các hoá chất thu hút, bạch cầu trung tính “bơi” đến vị trí nhiễm trùng và bao bọc vi trùng. Khi chúng bao vây vi trùng, các hạt nhỏ bên trong bạch cầu bắt đầu tạo ra các hoá chất tiêu diệt các vi trùng bị bắt. Mủ mà chúng ta thường thấy tụ lại ở các vị trí nhiễm trùng là kết quả hoạt động của các bạch cầu đa hình và chủ yếu là được tạo nên từ các bạch cầu chết.
Loại bạch cầu đa hình thứ hai có tên là bạch cầu ưa cosin, bởi vì các hạt nhỏ của chúng bị nhuôm màu hồng khi máu được chộn với chất nhuộm cosin. Chỉ có từ 1 đến 4% trong bạch cầu, bạch cầu ưa cosin chống lại sự tấn công của vi trùng và còn có một vai trò quan trọng khác. Khi có bất kỳ protein hoặc các kháng nguyên lạ nào đi vào trong máu, các chất được gọi là kháng thể được tạo ra để kết hợp với kháng nguyên và làm trung hoà tác động của chúng. Khi quá trình này đang tiếp diễn, hoá chất histamine được phóng thích.
Loại bạch cầu đa hình thứ ba là bạch cầu ưa mềm. Chúng có chưa đến 1% trong tất cả các bạch cầu, nhưng rất cần thiết cho sự sống, bởi vì các hạt nhỏ của chúng tạo ra và phóng thích heparin, chất hoạt động để ngăn máu khởi động lại trong các mạch.

LIMPHÔ BÀO:

Tạo nên khoảng 25% trong tổng số bạch cầu của máu là các lymphô bào, tất cả lymphô bào đều có nhân đặc, hình cầu. Lymphô bào có một vai trò quan trọng, tạo cho cơ thể sự miễn dịch tự nhiên đối với bệnh. Chúng thực hiện điều này bằng cách tạo ra các kkháng độc tố để trung hoà các tác động nguy hiểm tiềm tàng của các độc tố mạnh (chất độc) hoặc các hoá chất do vi trùng nào đó sinh ra. Một yếu tố quan trọng nữa của lymphô bào là sản xuất kháng thể và hoá chất giúp ngăn ngừa các tế bào cơ thể khỏi chết vì sự sâm nhập vi trùng. Bạch cầu sau cùng trong số các bạch cầu là bạch cầu đơn nhân, chúng tạo nên 8% trong tổng số bạch cầu. Các bạch cầu đơn nhân lớn nhất có chứa nhân lớn, chúng bao bọc vi trùng và loại bỏ các mảnh vỡ tế bào do sự tấn công của vi trùng hây ra.
Hoạt động của các bạch cầu đa hình và bạch cầu đơn nhân có liên quan đến vi trùng mang mầm bệnh được gọi là phản ững viêm – viêm là phản ứng của cơ thể đối với tổn thương ở một mức độ cụ bộ. Hoạt động của lymphô bào liên quan đến các vi sinh vật xâm nhập và các chất khác được gọi là phản ứng có miễn dịch. Cả hai phản ứng có thể được làm cho hoạt động cùng một lúc.

CÁC BẠCH CẦU ĐƯỢC SẢN XUẤT Ở ĐÂU

Tuỷ xương cùng là nơi sản xuất một số loài bạch cầu. Cả ba loại bạch cầu đa hình được sản xuất tại đây, từ các tế bào được gọi là tuỷ bào, ngoài ra bằng một loạt sự phân chia. Trung bình bạch cầu đa hình sống chỉ 12 giờ và chỉ 2 hoặc 3 giờ khi các tế bào liên quan đến sự chiến đấu chống vi trùng xâm nhập. Trong những hoàn cảnh như thế, sự sản xuất bạch cầu được tăng thêm để đáp ứng những đòi hỏi của cơ thể. Các lymphô bào trung bình sống được 200 ngày được tạo thành trong lá lách và trong các khu vực như amiđan và các tuyến bạch tuyết trong cơ thể. cả bạch cầu đơn nhân lẫn tiểu cầu đều được sản xuất trong tuỷ xương. Tuổi thọ của bạch cầu đơn nhân vẫn còn là một bí mật, bởi vì dường như chúng trải qua một phần thời gian ở các mô và một phần dây chuyền sản xuất không bao giờ thiếu. Cơ thể tìm được cách thay thế toàn bộ hàng triệu tiểu cầu của nó, tính trung bình chừng mỗi ngày một lần.
Mặc dù, sự chảy máu, bên trong hay bên ngoài, luôn luôn là một tình huống có thể được cho là nghiêm trọng, nhưng các cơ quan tồn tại gắn liền của cơ thể đảm bảo rằn có một người có thể mất tối đa một phần tư tổng số máu của mình mà không bị bất kỳ ảnh hưởng đau ốm nào, dù cho không có truyền máu. Và bởi vì máu là dây chuyền cung cấp đi và về các mô, người ta không ngạc nhiên rằng những rối loạn và bệnh tật cơ thể xuất hiện qua những thay đổi trong máu. Ngoài sự phản ánh tình trạng sức khoẻ của cơ thể ra, máu tự nó có thể là vị trí của cả một loạt rối loạn ảnh hưởng đến các hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và huyết tương, mỗi thành phần này đòi hỏi sự phát hịên và điều trị.
Các tế bào máu được sản xuất ở nhiều chỗ khác nhau trên khắp cơ thể. Mặc dù, điều này thay đổi ở trẻ em và thanh niên, nhưng sự sản xuất trở nên cố định ở tuổi trưởng thành, xảy ra hầu hết ở sọ, xương sống, xương sườn, xương ức và xương đùi và ở các đầu xương lớn thí dụ như xương cánh tay. ở đây, tuỷ xương sản xuất tất cả các loại bạch cầu. Các bạch cầu cũng được sản xuất ở lá lách và các hạch bạch cầu.

TIM

Tim là một cơ quan lớn bằng cơ ở chính giữa ngực, được cho là phần nhiều của tim nằm ở bên trái. Tim nặng khoảng 340g đối với đàn ông và nhỏ hơn một chúng đối với phụ nữ.

Không có nhận xét nào: